Bơm jockey là gì? Cách phối hợp bơm bù áp, bơm điện và bơm diesel
Bơm jockey bù lượng nước thất thoát nhỏ để duy trì áp lực, nhờ đó bơm chữa cháy chính không khởi động vì mọi dao động. Giá trị của nó nằm ở thứ tự ngưỡng áp và khả năng chẩn đoán bất thường.
Ban đêm, không có đầu phun nào mở nhưng áp lực đường ống giảm nhẹ. Nếu bơm chữa cháy chính lập tức chạy, hệ thống vừa tiêu hao năng lượng, vừa tăng số lần khởi động và có thể tạo dao động áp không cần thiết. Bơm jockey sinh ra để xử lý khoảng nhỏ giữa “hệ thống kín hoàn toàn” và “đang có nhu cầu chữa cháy thực sự”.
Ba nhân vật trong phòng bơm
- Bơm jockey – bơm bù áp
- Lưu lượng nhỏ, duy trì áp và bù rò rỉ nhỏ. Nó không thay thế lưu lượng chữa cháy.
- Bơm chữa cháy điện
- Cấp lưu lượng thiết kế khi áp tiếp tục giảm đến ngưỡng khởi động chính.
- Bơm chữa cháy diesel
- Đóng vai trò theo cấu hình dự phòng hoặc phối hợp đã thiết kế, đặc biệt khi nguồn điện không sẵn sàng.
Đọc chuỗi áp lực như một câu chuyện
Ở trạng thái bình thường, áp nằm trong dải duy trì. Một rò rỉ nhỏ làm áp giảm đến điểm khởi động jockey; bơm chạy, phục hồi áp rồi dừng ở ngưỡng cao hơn. Nếu nhu cầu nước lớn hơn khả năng bù, áp tiếp tục giảm và bơm chính nhận lệnh khởi động.
Các ngưỡng phải có khoảng cách đủ để tránh hai bơm tranh nhau hoặc khởi động đồng thời ngoài ý muốn. Giá trị cụ thể không nên sao chép từ công trình khác; nó phụ thuộc áp tĩnh, áp yêu cầu, cao độ, đường cong bơm, bình tích áp và logic controller.
| Hiện tượng | Điều có thể đang xảy ra |
|---|---|
| Jockey khởi động vài phút một lần | Rò đường ống, van một chiều hở, bình tích áp mất khí hoặc ngưỡng quá hẹp |
| Jockey chạy liên tục | Rò lớn, bơm không tạo đủ áp, quay ngược hoặc van chưa đúng trạng thái |
| Bơm chính chạy trước jockey | Cài đặt áp chồng lấn, cảm biến sai hoặc controller đấu nhầm |
| Áp tăng vọt khi dừng | Điều khiển, van hoặc đặc tính hệ thống cần được đánh giá lại |
| Áp giảm nhưng không bơm nào chạy | Chế độ điều khiển, nguồn, đường cảm biến hoặc công tắc áp có sự cố |
Hai hiểu nhầm cần loại bỏ
“Jockey càng lớn càng tốt”: một bơm bù áp quá lớn có thể che giấu nhu cầu nước đáng kể và làm chậm thời điểm bơm chính nhận biết áp giảm. Thiết bị phải phục vụ duy trì áp, không cạnh tranh nhiệm vụ chữa cháy.
“Bơm chính tự dừng khi áp hồi”: logic dừng bơm chữa cháy phải theo controller, tiêu chuẩn và quy trình của hệ thống. Không tự thêm chế độ dừng theo áp chỉ vì muốn giảm thời gian chạy.
Phiên chạy thử bắt đầu từ đồng hồ đã kiểm tra
Trước khi thay ngưỡng, cần xác nhận đồng hồ áp, cảm biến và đường ống cảm biến không bị tắc. Ghi áp tĩnh; tạo giảm áp có kiểm soát; quan sát thứ tự khởi động; ghi áp cut-in/cut-out của jockey và điểm khởi động từng bơm chính. Sau đó kiểm tra đèn, còi, tín hiệu về tủ và chế độ mất nguồn.
Thử riêng từng bơm mới chỉ xác nhận thiết bị. Phiên thử phối hợp mới cho thấy thứ tự điều khiển có đúng hay không.
Nhật ký jockey là cảm biến rò rỉ giá rẻ
Nếu controller có bộ đếm hoặc nhật ký, hãy theo dõi số lần chạy theo tuần. Tần suất tăng dần thường xuất hiện trước khi rò rỉ nhìn thấy bằng mắt. Với hệ không có log, đội vận hành có thể ghi giờ máy hoặc lắp giải pháp giám sát phù hợp mà không can thiệp sai vào controller.
Khi điều chỉnh áp, đừng quên toàn bộ tòa nhà
Tăng một ngưỡng có thể đưa áp tại tầng thấp vượt khả năng của thiết bị; giảm quá nhiều lại làm thiếu áp ở điểm bất lợi. Mọi thay đổi nên được so với bảng tính thủy lực, đường cong bơm và giới hạn của đường ống, van, sprinkler.
Xem thêm cách bố trí phòng bơm chữa cháy. PCCC An Nhiên nhận đo kiểm, chẩn đoán và lập kế hoạch bảo trì: đăng ký khảo sát.
Tham khảo phạm vi bơm, controller, thử nghiệm và bảo trì trong NFPA 20. Thông số cuối cùng phải theo thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng của công trình.